HỌA SĨ NGƯỜI PHÁP FRANCOIS DE MARLIAVE VÀ NHỮNG BỨC TRANH LĂNG TẨM HUẾ ĐẦU THẾ KỶ XX

Sau khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam, văn hóa nghệ thuật Pháp từ đó cũng có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống mỹ thuật người Việt. Những tác phẩm sơn dầu, màu nước của các họa sĩ người Pháp vẽ về phong cảnh Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều và mang giá trị nghệ thuật cao như họa sĩ Pháp như Gaston Roullet (1847-1925) là một họa sĩ của hải quân Pháp với 203 bức tranh sơn dầu và màu nước về đất nước và con người Việt Nam cuối thế kỷ XIX  như: “Hà Nội – Hồ Hoàn Kiếm”, 1885; “Phong cảnh Hà Nội”, 1885, “Sông Hồng, Hà Nội, Bắc Kỳ”. 1885, “Huế, Trung Kỳ”; tác giả Paul với tác phẩm Sài Gòn vẽ năm 1911. Hay bộ tranh Tuyệt phẩm về Đông Dương của họa sĩ Pháp Marius Hubert-Robert (1885-1947) thể hiện vẻ đẹp của xứ sở Đông Dương được in trong ấn phẩm “En Indochine” (Tại Đông Dương) của tác giá Robert Chauvelot xuất bản năm 1931, được giới thiệu trên trang Belle Indochine tiêu biểu các bức tranh “Ngọ Môn Huế”, “Lăng Minh Mạng Huế… Đặc biệt, với khoảng 23 tác phẩm băng chất liệu bột màu và màu nước, họa sĩ kiêm nhà du hành người Pháp Francois de Marliave (1874 – 1953) (H.1) đã họa lại vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm, cảnh vật của xứ Huế, đó là những bức tranh có giá trị nghệ thuật cao và cùng chung đề tài với mộ số bức bích họa phong cảnh tại cung An Định Khải Tường lâu Huế.

Hình 1: Francois de Marliave (1874 – 1953)

Họa sĩ François de Marliave sinh năm 1874 tại Toulon một thành phố ở miền Nam nước Pháp và mất năm 1953 tại Draguignan, vùng Provence-Alpes-Côte d’AzurPháp. Ông là một họa sĩ du lịch và là anh của nhà âm nhạc Joseph de Marliave, ông cũng là hậu duệ của một gia đình quý tộc từ vùng Toulouse, Pháp.

Trong sự nghiệp của mình Francois de Marliave có rất nhiều tác phẩm hội họa đã trưng bày tại Salon của các nghệ sĩ Pháp và tại Salon của Hiệp hội Mỹ thuật Quốc gia từ năm 1904 đến năm 1926:

  • Năm 1913, Ông trưng bày vào tại Salon des Orientistes Français.
  • Năm 1911 và 1920 ông đến và sáng tác tại Đông Dương.
  • Ông đã thực hiện một chuyến đi đến Trung Đông và Đông Phi vào năm 1933.
  • Năm 1925, ông đã ở lại Algeria và vào năm 1945.

Năm 1911, Francois de Marliave nhận được học bổng của Đông Dương và bắt đầu cuộc du hành của mình đến xứ sở Đông Dương. Đây là một giải thưởng được thành lập từ năm 1910 cấp học bổng cho các nghệ sĩ Pháp sang Đông Dương sáng tác. Giải thưởng này cũng là điểm khởi đầu của giao lưu văn hóa hóa Pháp – Việt. Các họa sĩ có tác phẩm trưng bày tại triên lãm “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” phải bước qua một cuộc tuyển chọn, người đoạt giải sẽ được trao tặng một năm du lịch nghiên cứu, cộng thêm vé hạng nhất khứ hồi, một khoản tiền được tài trợ là 1.200 đồng Đông Dương và đi lại miễn phí trên toàn Đông Dương để sáng tác những tác phẩm nghệ thuật về nơi này. NgaNhững giải thưởng đầu tiên được trao cho các họa sĩ Ferdinand Olivier (Martieues 1873 – 1957) năm 1910, Auaústin Carréra (Madrid 1878 – Paris 1952) năm 1912, Maitiiiien Salaé (Marseille 1878 – Jouques 1946) năm 1913, Charles Dominique Fouqueray (Le Mans 1809 – Paris 1956) năm 1914 hay Géo Michel (1923) đã đến và sáng tác rất nhiều từ Đông Dương. Vào thời kỳ đại thế chiến thứ nhất (1914-1918), việc phát giải thời Đông Dương bị gián đoạn cho đên năm 1920…

Khi nhận được giải thưởng Đông Dương, ông đã đến và ở lại vào năm 1911 và vào năm 1920, nơi ông đã vẽ nhiều tác phẩm và chuẩn bị cho triển lãm thuộc địa của Marseille vào năm 1922. François de Marliave còn minh họa nhiều cuốn sách về Đông Dương. Trong đó tiêu biểu nhất là những bức tranh cổ về xứ Huế – kinh đô triều Nguyễn những năm 1911 – 1920 trong thời kỳ thuộc địa… Suốt cuộc hành trình về phương Đông ấy, Francois de Marliave và các họa sĩ Pháp khác đã gặt hái được rất nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị, cho phép họ đem về Pháp và triển lãm nhiều tác phẩm với một cái nhìn thực tế hơn về một vùng đất, mà cho đến khi đó, mới chỉ có “trong trí tưởng tượng của các nhà sáng tác.

Các chủ đề chủ đạo thường bắt gặp trên trong tranh của Francois de Marliave là phong cảnh và cuộc sống hàng ngày của cư dân vùng bản địa, hoặc các cảnh quan của những di tích cổ, còn có vả phong cảnh chốn thành thị, nơi các công trình kiến ​​trúc cũng là một trong những đề tài giữ vai trò quan trọng trong suốt quá trình sáng tác của ông.

Trong số những tác phẩm về về lăng tẩm vua Nguyễn thì các tác phẩm như: “Hồ nước phía trước lăng Gia Long”, “Hồ Tân Nguyệt và tòa Minh Lâu ở lăng Minh Mạng”, “Một góc lăng Thiệu Trị”, “Xung Khiêm Tạ ở hồ Lưu Khiêm trong lăng Tự Đức”… là một trong số mang giá trị nghệ thuật cao. Biểu trị những vẻ đẹp đặc trưng nhất của phong cảnh Huế đương thời.

Bức tranh đầu tiên trong series về lăng tẩm là tác phẩm “Hồ nước phía trước lăng Gia Long” (H.2).

Hình 2: Hồ nước phía trước lăng Gia Long với đỉnh núi Đại Thiên Thọ

Hình 3. Phong cảnh Lăng Gia Long – Bích họa Khải Tường Lâu – Cung An Định Huế

Lăng Gia Long là một công trình mang sự hòa quyện tuyệt vời giữa kiến trúc cổ kính và thiên nhiên hùng vĩ, tạo nên một không gian tĩnh lặng và đậm chất thơ. Công trình kiến trúc này khá mộc mạc, đơn sơ nhưng tổng thể công trình lại khá hoành tráng với chu vi lên đến 11.234 m. Đặc biệt, lăng có vị thế phong thủy và quá trình thiết kế, xây dựng rất được vô cùng chú trọng, được đích thân vua thám sát, duyệt định vị trí, quy hoạch và chỉ đạo công tác thiết kế cũng như giám sát tiến độ thi công. Toàn bộ khu lăng là một quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ với tên gọi riêng, trong đó Ðại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất. Lăng Gia Long trong tranh của Francois de Marliave có điểm nhìn từ hồ ra hướng 2 trụ hướng ra 2 trụ biểu trên ngọn núi Đại Thiên Thọ, là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án, như một bức bình phong vững chải che chắn cho lăng. Marliave đã thể hiện phong cảnh lăng vua Gia Long vào một buổi chiều tà, với phép phối cảnh 1 tụ. Thiên nhiên qua ngòi bút của Marliave lao xao, sinh động qua từng nhát cọ tinh tế. Màu sắc trong tranh hài hòa với gam xanh tươi mát. Bút pháp trên tranh của ông thể hiệnn sự rung động mạng mẽ theo dòng cảm xúc ùa đến trước vẻ đẹp thiên nhiên Huế xưa, một vẻ đẹp có phần hoang sơ, thô dã, đơn mộc và lắng dịu thông qua những nét vẽ đầy cung bậc cảm xúc được ông ghi lại từ làn nước lấp lánh, đám cỏ cây lao xao, bầu trời với những khoảng mây ẩn hiện.

Khi so sánh tác phẩm này với bức bích họa “Lăng Gia Long” (H.3) trên bích họa Khải Tường Lâu, ta thấy thêm một góc nhìn khác của họa sĩ phương Đông khi vẽ về nơi an vua của đất nước mình. Hai tác phẩm đều ra hướng 2 trụ biểu trên ngọn núi Đại Thiên Thọ, cùng có gam màu gam màu xanh của thiên nhiên chủ đạo, nhưng mỗi tác phẩm mang một vẻ đẹp riêng, tranh của  Marliave thiên về khai thác những cảm xúc, sự ngưỡng mộ vẻ đẹp của thiên nhiên, lăng Gia Long trên bích họa Khải Tường lâu lại mang vẻ đẹp hoài niệm, ấp áp như ôm trọn cả một thiên sử trong đó. Ngoài việc khác nhau về chất liệu như tranh của Francois de Marliave vẽ bằng bột màu trên giấy, bích họa Lăng Gia Long được vẽ bằng sơn dầu trên tường thì về kỹ thuật vẽ, bút pháp của Marliave mang sự phóng khoáng, tinh tế về cảm xúc, bích họa tại Khải Tường lâu lại mang nét đẹp nghiên về phong cách Tân cổ điển, không thấy sớ cọ, bút pháp nhẹ nhàng, sử dụng lối điều màu mềm và mịn trên mặt tường.

Hình 4. Hồ Tân Nguyệt và tòa Minh Lâu ở Lăng Minh Mạng.

Tác phẩm thứ hai là “Hồ Tân Nguyệt và tòa Minh Lâu ở Lăng Minh Mạng” (H.4). Đây là một tác phẩm đẹp vẽ về Minh Mạng, hay còn gọi là Hiếu Lăng (孝陵), do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843, lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách Cố Đô Huế 12 km.

Tác phẩm lăng Minh Mạnh của Marliave được thể hiện góc phối cảnh hai tụ, tại Bửu Thành (khu mộ vua) phóng tầm về phía mặt sau của tòa Minh Lâu. Tranh tái hiện cận cảnh là cầu Trung Đạo Kiều bắc ngang hồ Tân Nguyệt ôm lấy Bửu Thành và viễn cảnh là tòa Minh lâu màu ẩn hiện đằng sau những tán cây lớn. Xa hơn nữa là chân trời màu xanh êm nhẹ thể hiện sự bình yên, êm ả. Tất cả hình ảnh trên tranh thể hiện nét đẹp đầy vẻ thư nhàn, siêu thoát, tựa như một thông điệp nhẹ nhàng về sự yên nghỉ, về giấc ngủ ngàn thu của bậc tiền nhân.

 Hình 5. Tòa Minh lâu, lăng Minh Mạng – Marius Hubert Robert

Hình 6. Phong cảnh Lăng Minh Mạng – Bích họa Khải Tường Lâu – Cung An Định Huế

Cùng là họa sĩ du hành đến Đông Dương, nhưng nếu như tranh của Francois de Marliave mang vẻ đẹp nên thơ, ấp áp, mỗi nhát cọ là một biểu thị cho cảm xúc nhanh và mạnh thì các tác phẩm của họa sĩ Marius Hubert Robert là bức “Lăng Minh Mạng” (H.5) lại thể hiện vẻ đẹp lãng mạn nhưng tươi sáng qua chất liệu trong trẻo của màu nước.

Tác phẩm bích họa “Lăng Minh Mạng” (H.6) tại Khải Tường Lâu Cung An Định cũng có góc nhìn từ vị trí bên phải cửa vào Bửu Thành phóng tầm về phía mặt sau của tòa Minh Lâu. Tác phẩm thể hiện cận cảnh là nhóm cây cối nhỏ, trung cảnh là cầu Trung Đạo Kiều bắc ngang hồ Tân Nguyệt và viễn cảnh là điểm nhấn chính với tòa Minh lâu màu son đỏ bị phủ mờ vết dấu thời gian, đang trầm mặc đằng sau những tán cây lớn. Xa hơn nữa là chân trời ửng hồng cảm diễn tả một buổi hoàng hôn mùa cuối mùa thu. Đường nét trong tranh được thể hiện mềm mại, dứt khoát… tạo nên nhịp điệu uyển chuyển với sự uốn lượn của các cụm cây nền nã kết hợp những tường bao, con đường, cầu thẳng tắp… dẫn hướng mắt người xem đến điểm nhìn nội dung chính trên tranh.

Tác phẩm nổi bật tiếp theo là bức phong cảnh “Lăng Thiệu Trị” (H.7).  Lăng Thiệu Trị có tên chữ là Xương Lăng (昌陵) là nơi chôn cất vua Thiệu Trị, được xây dựng vào ngày 11 tháng 2 năm 1848.  Lăng nằm dựa lưng vào núi Thuận Đạo, ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy.

Hình 7. Hồ Ngưng Thúy và Bửu Thành ở lăng Thiệu

Điểm nhìn trong bích họa lăng Thiệu Trị là từ Hồ Ngưng Thủy phóng tầm mắt qua Nghi Môn được đúc bằng đồng nối liền trục lăng với Bửu Thành vững chải bao bọc nơi vua an nghỉ. Trong tác phẩm này, tranh có điểm nhìn từ trên cao xuống theo phối cảnh hai tụ.

 

Hình 8. Hình Bửu Thành ở lăng Thiệu Trị

Marliave đã vẽ hai bức về Lăng Thiệu Trị với hai góc phối cảnh khác nhau. Nếu như bức tranh lăng Thiệu Trị là từ Hồ Ngưng Thủy được thể hiện với gam màu xám chủ đạo, tạo cho không gian tranh một vẻ đẹp cổ kính, khá lạnh lùng thì tác phẩm Lăng Thiệu Trị nhìn trực diện (H.8) lại mang vẻ đẹp giàu sinh khí bởi màu gam xanh lục được diễn tả rất ngọt và phong phú về sắc độ.

Lăng Tự Đức (chữ Hán: 嗣德陵) là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ (萬年基), rồi đổi tên thành Khiêm Cung (謙宮). Sau khi vua Tự Đức băng hà, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng (謙陵). Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của hoàng gia nhà Nguyễn.

“Tứ bề núi phủ mây phong,

Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên”.

Hình 9. Xung Khiêm Tạ ở hồ Lưu Khiêm trong lăng Tự Đức

Trong tranh của Marliave, Lăng Tự Đức được thể hiện góc  nhìn từ Dũ Khiêm Tạ qua hồ Lưu Khiêm về hướng Xung Khiêm Tạ (H.9). Cận cạnh là Dũ Khiêm Tạ, hồ Lưu Khiêm với làn nước xanh điểm những lá sen bình dị, thanh. Viễn cảnh là Xung Khiêm Tạ. Đây là tòa nhà dành làm nơi vua Tự Đức câu cá, ngắm trăng, làm thơ… được thiết kế kép theo lối trùng thiềm điệpc ốc, chất liệu gỗ được tác giả đặc tả với gam màu nâu trầm toát lên vẻ ấm áp, cũ xưa… Nhà chính chính đường cấu trúc như một ngôi nhà Rường lớn, nối trực tiếp với nhà trước tiền đường chỉ bé như một nhà vỏ cua thông qua một cột trụ chung.

Màu sắc ấm áp với gam cam vàng, bức tranh mang vẻ đẹp tươi tắn nhưng không hề phô trương, kỹ thuật điều màu khá nhuần nhuyễn, mềm mại kết hợp với bút pháp nhẹ nhàng, tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc và sinh động trong tranh.

Hình 10.  Dũ Khiêm Tạ ở hồ Lưu Khiêm

Bên cạnh đó, một số tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao của ông như: “Dũ Khiêm Tạ ở hồ Lưu Khiêm, lăng Tự Đức” (H.10), “Vườn hoa của lăng Minh Mạng” (H.11), “Voi chiến trong Hoàng thành Huế” (H.12),

Hình 11. Vườn hoa của lăng Minh Mạng.

 

Hình 12. Voi chiến trong Hoàng thành Huế

Những tác phẩm của Francois de Marliave này rất thú vị vì hai lý do: Đó là những tác phẩm không chỉ cho mặt thẩm mỹ của họ mà còn vì hình ảnh và minh họa màu sắc hiếm hoi vào thời điểm này… Đó là những tác phẩm hội họa đánh dấu thời kỳ nghệ thuật tạo hình hiện đại Phương Tây bắt đầu len lỏi vào dòng chảy mỹ thuật truyền thống nước ta. Giai đoạn được nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân nhận định: “Ở Việt Nam, một nền nghệ thuật hiện đại như đã xảy ra ở phương Tây đến rất muộn. Việt Nam chỉ mới bắt đầu cuộc giao lưu văn hoá thực sự với phương Tây từ khi nước Pháp hoàn thành cuộc thực dân hóa toàn bộ xứ sở này (1883)” [1.324].

Trong những năm lưu trú và sáng tác tại Đông Dương, hầu hết các tác phẩm của Francois de Marliave mang những giá trị nghệ thuật riêng biệt, đó là những bức phong cảnh gần gũi, mộc mạc nhưng thể hiện được sự nhảy cảm của tâm hồn người nghệ sĩ, những cảm nhận về thiên nhiên con người Đông Dương với nét đẹp đặc trưng, sự rung động tinh tế trước vạn vật trên tranh của ông đã chuyển tại hết tất cả những tâm tư yêu mến những vùng đất ông đi qua trên mỗi nhát cọ. Dường như những rào cản về văn hóa, chính trị của thế cuộc đương thời không thể nào ảnh hưởng và cản trợ đến nghệ thuật khi của ông vẽ về Đông Dương nói chung và Huế nói riêng. Những lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, chốn kinh thành… hiện ra với những góc nhìn phong phú, bằng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc tạo nên nét đẹp đẹp cổ kính, hoài niệm, mang tính thẩm mỹ, tính biểu cảm sâu sắc. Và trên hết, tất cả tác phẩm đã mang đến những cảm nhận sâu sắc về phong cảnh Huế dưới cái nhìn của những người nghệ sĩ Phương Tây.

By Minh Huế

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *